Nhua

    Hạt nhựa ABS nguyên sinh & tái sinh ( Acrylonitrin Butadien Styren )

    Các loại nhựa nguyên sinh ABS: ABS-707, ABS-757, ABS-717C, ABS-747, ABS-709, ABS-737, ABS-716, ABS-746, ABS-746H, ABS-756, ABS-756H, 756S, ABS-747R, ABS-747F, ABS-747H, ABS-747S, ABS-709S, ABS-709P, ABS-763, ABS-764, ABS-764B, ABS-765, ABS-765A, ABS-765B, ABS-777B, ABS-777D, ABS-777E, ABS-727, ABS-726M, ABS-757GJ08 các loại nhựa ABS có thể thu hồi và tái sinh thành hạt nhựa tái sinh ABS.
        Tính chất nhựa ABS gốc Butadien bắt nguồn từ cao su thiên nhiên: cứng, rắn mà không giòn. Cân bằng tốt giữa độ bền kéo, va đập, độ cứng bề mặt, độ rắn, độ chịu nhiệt các tính chất ở nhiệt độ thấp và các đặc tính về điện trong khi giá nhựa nguyên sinh ABS tương đối rẻ. Tính chất đặc trưng của ABS là độ chịu va đập và độ dai.
        Có rất nhiều loại hạt nhựa nguyên sinh ABS biến tính khác nhau nhằm cải thiện độ chịu va đập, độ dai và khả năng chịu nhiệt. Khả năng chịu va đập không giảm nhanh ở nhiệt độ thấp.
        Độ ổn định nhựa

Nhua


Sinh hoạt hằng ngày của chúng ta được phục vụ bởi vô số những hàng hóa, sản phẩm được chế biến, gia công từ nhựa, và hầu như điều này trở thành đương nhiên không thể thiếu trong suy nghĩ của mọi người. Chúng ta cũng có thể gọi thời đại chúng ta đang sống hiện nay là thời dại của nhựa nhân tạo.
Tuy nhiên chúng ta vẫn biết rất ít về những tính chất khác biệt cùng với những ứng dụng muôn mặt cũng như dạng suất hiện của nhựa, những tác dụng độc hại cho sức khỏe, môi trường sống, lại càng ít biết đến thành phần cấu tạo hoá học bên trong của chúng.
Nhựa nhân tạo cũng được gọi với tên "nhựa tổng hợp" hay “chất dẻo“ ( Plastic ) là một loại hợp chất hữu cơ, đã được các nhà khoa học tìm ra trong 4 thập kỷ trở lại đây và nó đã, đang, và sẽ bành trướng mãnh liệt trong các ngành công nghiệp chế biến hàng tiêu dùng, đóng gói, cơ khí, điện khí và điện tử, xe hơi, hàng không..vv.. Tóm lại nhựa là vật liệu sẽ thay thế dần các vật liệu cổ điển khác như gỗ, khoáng chất và kim loại. trọng rất tốt, hạt nhựa nguyên sinh và tái sinh ABS chịu nhiệt tương đương hoặc tốt hơn Acetal, PC.. ở nhiệt độ phòng. Khi không chịu va đập, sự hư hỏng xảy ra do uốn nhiều hơn dòn. Tính chất vật lý ít ảnh hưởng đến độ ẩm mà chỉ ảnh hưởng đến sự ổn định kích thước của ABS.
            Kỹ thuật gia công nhựa ABS ở dạng hạt: Thường sử dụng phương pháp ép phun, độ co ngót thấp nên sản phẩm rất chính xác. Phun nhanh có thể dẫn đến sự định hướng của polymer nóng chảy và ứng suất đáng kể mà trong trường hợp đó cần tăng nhiệt độ khuôn.
            Nhựa ABS có thể làm dạng tấm, profile đùn, màng. ABS có gia cường sợi thuỷ tinh thích hợp cho đùn thổi.
            Ứng dụng: Hạt nhựa ABS kết hợp đặc tính về điện và khả năng ép phun không giới hạn và giá cả phải chăng, được ứng dụng trong các sản phẩm cách điện, trong kỹ thuật điện tử và thông tin liên lạc:
                Vỏ và các linh kiện bên trong như vỏ TV, vỏ máy photocopy, vỏ điện thoại, hộp mỹ phẩm…
                Trong kỹ thuật nhiệt lạnh: Là các vỏ bên trong, các cửa trong và vỏ bọc bên ngoài chịu va đập ở nhiệt độ lạnh.
                Các sản phẩm ép phun như các vỏ bọc, bàn phím, sử dụng trong các máy văn phòng, máy ảnh…
                Trong công nghiệp xe: Làm các bộ phận xe hơi, xe máy, thuyền…
                Trong công nghiệp bao bì, đặc biệt dùng cho thực phẩm, các sản phẩm ép phun, thùng chứa và màng, mũ bảo hiểm đồ chơi…


Nhựa có từ đâu ?

Text Box: Nguồn gốc của nhựa ?

Chất

Nhua

Người ta thường dùng chất BPA làm phụ gia trong sản xuất nhựa PC. BPA bao gồm các chất polymer dẻo nóng và trong suốt, được dùng nhằm tạo độ cứng, độ trong suốt cho nhựa và làm tăng tính thẩm mỹ cho sản phẩm. Nhựa PC chủ yếu là dùng trong công nghiệp như xe hơi, phụ tùng máy móc, đồ điện tử,... Nhưng do giá thành rẻ nên nhiều nhà sản xuất đã dùng chất này trong quá trình sản xuất hộp bảo quản thực phẩm và cả bình sữa cho trẻ em.

(nhựa hay còn gọi là plastic ) có nguồn gốc từ các sản phẩm hóa dầu.

Chất dẻo phát hiện từ khi nào ?

Năm 1600 TCN, người Trung Mỹ đã sử dụng cao su thiên nhiên làm banh, dây, và các bức tượng nhỏ. Các chất dẻo có nguồn gốc sinh học đầu tiên như trức và protein máu là các polymer hữu cơ. Sừng gia súc được xử lý được dùng

cửa cho những chiếc lồng đèn thời Trung Cổ.Chất dẻo đầu tiên được làm ra vào năm 1838 là vinyl clorua. Tiếp theo đó là chất styrene vào năm 1839, acrylic vào năm 1843 và polyeste vào năm 1847. Năm 1869, thời đấy, bóng billard được làm bằng ngà voi. Do ngà voi hiếm và đắt, trong quá trình tìm kiếm một chất thay thế cho ngà voi. Sau một loạt nỗ lực bất thành, cuối cùng ông đã thành công khi trộn lẫn nitrocellulose, long não (camphor) và cồn rồi nung nóng hợp chất này lên và để nguội sản phẩm. Nhà phát minh John Hyatt đã phát hiện ra celluloidn với

điểm dai và dễ uốn. Vào thời đó, ngoài việc sản xuất bóng billard thì celluloid đã được sử dụng để sản xuất rất nhiều thứ như lược chải đầu, đồ chơi … Chất này đã mở đầu cho cuộc đột phá trong việc triển khai chất tổng hợp mới.

Chất dẻo được phát triển mạnh mẻ bởi ai ?

Tuy vậy, đây chưa thực sự được gọi là hợp chất đánh dấu sự bắt đầu xuất hiện của nhựa plastic bởi nó vẫn được chế tạo từ các hợp chất tự nhiên. Phải đợi tới 40 năm sau, một nhà hóa học khác là Leo Baekeland mới bắt đầu nung nóng phenol và formaldehyde để tạo ra nhựa , ông đã khám phá ra phenol formaldehyd vào năm 1909.Chất này có thể đổ khuôn thành bất kỳ hình dạng nào và có giá thành rẻ để sản xuất. Sản phẩm này được Baekeland gọi là Bakelite, là chất tổng hợp đầu tiên được sản xuất với số lượng lớn để sử dụng một cách rộng rãi.

Năm 1933, polyethylene được các nhà nghiên cứu của Imperial Chemical Industries (ICI) gồm Reginald Gibson và Eric Fawcett phát hiện.Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, những cải tiến về công nghệ hóa học đã dẫn đến sự bùng nổ các dạng chất dẻo mới; việc sản xuất hàng loạt đã bắt đầu vào khoảng thập niên 1940 & 1950. Năm 1953, Chevrolet Corvette là chiếc xe ô tô đầu tiên có thân (body) được làm bằng nhựa tổng hợp nhưng cũng phải tiếp theo đó 20-30 năm thì các loại nhựa tổng hợp khác nhau mới thật sự đạt tiêu chuẩn công nghiệp và được áp dụng đại trà trong cuộc sống như ngày nay.Polypropylene được Giulio Natta tìm thấy vào năm 1954 và bắt đầu được sản xuất vào năm 1957. Trong số những

chất dẻo đầu tiên dạng polymer mới phải kể đến là polystyrene (PS) được BASF sản xuất đầu tiên trong thập niên 1930, và polyvinyl clorua (PVC), được tạo ra năm 1872 nhưng được sản xuất thương mại vào cuối thập niên 1920. Năm 1954, polystyrene giãn nở (được dùng làm tấm cách nhiệt, đóng gói, và ly tách) được Dow Chemical phát minh. Việc phát hiện ra Polyethylene terephthalat (PET) đã tạo ra nhiều ứng dụng của Calico Printers\' Association ở Liên hiệp Anh vào năm 1941; nó được cấp phép cho DuPont ở USA và các ICI khác, và là một trong số ít chất dẻo thích hợp cho việc thay thế thủy tinh trong nhiều trường hợp, tạo ra nhiều ứng dụng về chai nhựa ở châu Âu.Sự phát triển của chất dẻo đã tạo ra nhiều ứng dụng của vật liệu dẻo tự nhiên (như chewing gum, shellac) để dùng làm các vật liệu tự nhiên có sự can thiệp bằng hóa học (như cao su, nitrocellulose, collagen, galalit) và cuối cùng là các phân tử tổng hợp hoàn toàn (như bakelite, epoxy, Polyvinyl clorua).

Hợp chất này đã được sử dụng để làm rất nhiều thứ như tay cầm điện thoại, phụ kiện ô tô … Ngày nay thậm chí loại nhựa này vẫn còn được sử dụng để làm cúc áo, tay cầm ấm nước, tay cầm dao, kéo … Bakelite mới thực sự đánh dấu sự phát triển của nhựa tổng hợp plastic. ​
                
 Dị ứng với nhựa, đừng coi thường!

Tác giả: Mỹ Thuận.   Tham vấn y khoa: TS. Dược Khoa Trương Anh Thư.

    Share on Facebook (Opens in new window)Bấm để chia sẻ lên LinkedIn (Opens in new window)Bấm để chia sẻ trên Google+ (Opens